TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH

TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH


HỌ ĐẠO CÁI QUAO KÍNH CHÚC QUÝ CHA, QUÝ TU SĨ NAM NỮ VÀ ANH CHỊ EM GIÁO DÂN ...MỘT MÙA GIÁNG SINH TRÀN ĐẦY TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA!
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI CHÚA CHÚA NHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI CHÚA CHÚA NHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH


Yêu thương

Từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, tình yêu vốn là một đề tài được khai thác nhiều nhất. Nào sách báo và phim ảnh; nào âm nhạc và tuồng kịch; nào truyền thanh và truyền hình…tất cả đều nói đến tình yêu. Tuy nhiên, nhiều khi tình yêu lại được nhìn từ một góc cạnh lệch lạc và què quặt, khiến cho tình yêu ngày hôm nay như đang đi trên bờ một vực thẳm với những sa đoạ trong nếp sống, những suy đồi trong luân lý và những đổ vỡ trong hôn nhân.

Thế nhưng, Chúa Giêsu đã đến và Ngài đã xác định cho chúng ta một lập trường rõ rệt, Ngài đòi hỏi nơi chúng ta một tình yêu chân thành dành cho Ngài cũng như dành cho tha nhân: Các con phải kính mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình.

Nhìn vào xã hội, chúng ta thấy: mặc dù tình yêu đang bị thui chột và tàn úa đi rất nhiều, nhưng không phải là không còn những tình yêu chân thành vá tốt đẹp. Tình yêu không chết, nhưng nó phát triển một cách âm thầm, không ồn ào, không rùm beng quảng cáo. Đúng thế, ngày hôm nay vẫn còn có những người vì yêu thương mà hết năm này qua năm khác, hy sinh cả cuộc đời để chăm sóc cho những kẻ ốm đau. Ngày hôm nay vẫn còn có những người dâng hiến bản thân để làm sáng danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Ngày hôm nay vẫn còn có những ông chồng, mặc dù đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, vẫn trung thành với người vợ bệnh tật và vẫn luôn chịu khó làm lụng để chăm sóc cho đàn con thơ dại. Ngày hôm nay vẫn còn những người vợ ân cần lo lắng cho chồng, cho con, mặc dù người chồng thì độc ác và con cái thì ngang bướng ngỗ nghịch.
Vậy đâu là suối nguồn mang lại sức mạnh nâng đỡ cho những tình yêu yêu cao đẹp ấy? Câu trả lời duy nhất, đó là sức mạnh và vẻ cao đẹp của tình yêu chỉ có thể xuất phát từ nơi Thiên Chúa, từ nơi Đức Kitô mà thôi.

Đúng thế, tình yêu cũng có cái gia phả, cũng có cái gốc gác và cội nguồn của nó. Nó xuất từ nơi Thiên Chúa, bởi vì Ngài là nguồn mạch mọi thương yêu, như lời thánh Gioan Tông Đồ đã xác quyết: Thiên Chúa là tình yêu. Rồi từ đó, vũ trụ vạn vật và nhất là con người đều là những dấu chỉ, những biểu hiện của một tình yêu bao la mà Ngài đã thực hiện mà thôi.

Hơn thế nữa, mặc dù biết trước con người sẽ phản bội, quay lưng chống lại Ngài, thế mà Ngài vẫn yêu thương và đi bước trước đến với chúng ta qua mầu nhiệm cứu độ và thập giá, như lời thánh Gioan Tông đồ cũng đã xác quyết: Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân. Ngài đã yêu thương nhân loại đến nỗi đã trao ban chính Con Một Ngài, để những ai tin vào danh Con Một Ngài thì sẽ được sống. Chính vì thế, Ngài có quyền đòi hỏi nơi chúng ta một tình yêu thương chân thành, bởi vì tình yêu chỉ có thể được đáp trả bằng tình yêu mà thôi.

Đồng thời Đức Kitô cũng đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu tuyệt vời nhất: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu. Đúng thế, Ngài đã đổ máu ra để cứu chuộc chúng ta, nhờ đó chúng ta được xoá bỏ bản án của tội nguyên tổ, lấy lại địa vị làm con cái Chúa. Kể từ nay, chúng ta là anh em một nhà vì có chung cùng một người cha là Thiên Chúa. Chính vì thế, Ngài đã truyền dạy: Phải kính mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình. Đồng thời, nhờ tình bác ái yêu thương đối với anh em, mà chúng ta trở nên người môn đệ đích thực của Chúa: Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.

Như vậy, tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân chỉ là hai phương diện của một giới luật duy nhất, đó là giới luật yêu thương. Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta nơi những người anh em. Ngài hẹn gặp chúng ta nơi những kẻ bất hạnh và khổ đau, như lời Ngài đã phán: Tất cả những gì các con làm cho một trong số những kẻ bé mọn nhất, là các con đã làm cho chính Ta vậy. Thế nhưng, liệu chúng ta có thực sự tìm gặp Chúa nơi những người anh em của mình hay không?

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

MÙA CHAY VÀ CÁNH BƯỚM


MÙA CHAY VÀ CÁNH BƯỚM

Trần Mỹ Duyệt
Thế là toàn thể Giáo Hội Công Giáo đã bước vào Mùa Chay khởi đầu bằng Thứ Tư Lễ Tro (13 tháng 2 năm 2013). Hình ảnh các tín hữu khiêm nhường cúi mình nhận lãnh chút tro xức trên trán để tưởng nhớ về cái xuất xứ của mình thật là cảm động: “Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi, và sẽ trở về bụi tro”.


Có ai mà thoát khỏi luật đào thải của đất trời. Và khi nghĩ đến cùng đích của cuộc đời mình một mai sẽ trở về với cát bụi thì con người không thể không suy nghĩ đến một triết lý và tâm lý sống: Đó là tôi từ lòng mẹ vào đời với hai bàn tay trắng, thì tôi cũng sẽ giã từ cuộc đời này để trở về với lòng đất tay trắng. Có chăng là tôi chỉ mang theo được những gì tôi đã làm khi còn sống, mà những cái đó tiền bạc, danh dự, thế lực, quyền bính, địa vị, học thức, ngay cả lạc thú không thể mua được. Có lẽ vì quan niệm như thế, và với cái nhìn tâm linh, Kitô Giáo đã gọi thời gian này là Mùa Chay, những ngày của “sám hối”.


Nhưng dường như phần đông Kitô hữu thường cho rằng, hành động xám hối của thời gian này cũng giống như việc chuẩn bị, mua sắm trong các dịp lễ Giáng Sinh, hay việc chuẩn bị cho một buổi tiệc. Tóm lại, những chuẩn bị này ở bên ngoài, và cho một người hay cho một biến cố đó là Phục Sinh của Chúa Kitô. Rất ít Kitô hữu nghĩ rằng Mùa Chay hay thời gian sám hối kia là chuẩn bị cho chính mình, cho cuộc “phục sinh” của chính mình. Trong tâm tình mùa chay và suy tư về sám hối, tôi muốn dùng hình ảnh con bướm để nói với lòng mình, và để thôi thúc những suy tư cũng như lối sống của chính mình.


Từ nhỏ tôi vẫn thường được dạy cho biết Mùa Chay là thời gian của ăn năn đền tội, của cầu nguyện, của làm việc thiện. Nhưng thực tế, nhìn quanh và quan sát lối sống của nhiều người, tôi thấy hình như những từ ngữ ăn năn đền tội, cầu nguyện, và làm việc lành phúc đức là những gì xem như sáo ngữ và ước lệ, đọc và nghe rồi bỏ qua. Cá nhân tôi cũng không ra ngoài cái tính ước lệ và hình thức ấy, có lẽ vì vậy mà hết Mùa Chay này đến Mùa Chay khác, hết thời gian sám hối này đến thời gian sám hối khác tôi vẫn là tôi. Nhưng một hình ảnh về thời gian chay tịnh, xám hối rất thích hợp, có khả năng đổi mới, và tích cực cho những chuyển đổi tâm linh này, đó là cuộc đời và tiến trình lột xác của loài bướm.


Bươm bướm. Những cánh bướm muôn màu sắc nhởn nhơ bay lượn trên những bông hoa quanh nhà là những hình ảnh mà ai cũng thích nhìn, và ai khi nhìn thì cũng thấy đẹp. Nhiều thi nhân, nhiều nghệ sĩ, nhiều nhạc sĩ, nhiều văn sĩ đã phải ngất ngây trước vẻ đẹp thiên nhiên này, và kết quả là họ để lại những tác phẩm, những áng văn, những bài thơ, những nhạc phẩm rất tuyệt vời khi nhìn ngắm những cánh bướm muôn màu nhở nhơ trong gió và trên những cánh hoa. Tiếc thay, vì đó chỉ là những cánh bướm, nên cái ảnh hưởng của nó cũng rất “thoáng qua” và “mong manh”.


Nhưng nếu để ý, ta sẽ thấy xuyên qua cái vẻ đẹp tự nhiên ấy, cũng như kiếp sống phù du ấy của loài bướm, ta có thể tìm được một bài học rất ý nghĩa và thiết thực cho cuộc sống tâm lý và tâm linh. Đó là tiến trình chuyển đổi để thành một con bướm khởi đi từ những cái trứng rất nhỏ bé được bướm mẹ để vào những chiếc lá. Từ những cái trứng rất nhỏ bé ấy, lại nở ra những con sâu hình thù rất xấu xí không ai muốn nhìn, muốn đụng chạm tới. Chính tôi đã bị một lần đụng phải con sâu này, và hậu quả là những cơn nhức buốt, ngứa và đau đớn. Rồi những con sâu ấy sau khi đã ăn ngấu nghiến những đọt cây, những chiếc lá nó lại cuộn mình trong một cái kén treo lủng lẳng ở các ngọn cây. Bất ngờ, sau một chuỗi dài thinh lặng, chuyển hóa từ trong những chiếc kén ấy nở ra những cánh bướm tuyệt vời. Những cánh bướm tung bay làm rạng rỡ bầu trời, và thiên nhiên như mở hội khi từng trăm, ngàn, vạn cánh bướm muôn sắc màu bay lượn trên những cánh hoa muôn sắc.


Đi vào thực tế trong cuộc sống thường ngày, hành trình đi tìm uyên nguyên của con người chẳng khác gì hành trình lột xác của loài bướm. Nếu cái cùng đích của hành trình ấy là những cánh bướm muôn màu, thì hành trình con người trên dương thế là đạt tới chân trời hoa mộng của vĩnh hằng. Ở đó, những tâm hồn sau khi đã hóa thân trong sự lột xác sẽ trở thành những cánh bướm thần linh bay lượn và nhởn nhơ trong khung trời hạnh phúc.


Nói theo niềm tin thì lúc đó họ sẽ phục sinh, và hiển linh sau những lột xác của cuộc đời trần thế. Những chiếc trứng nhỏ bé kia chẳng khác gì hình ảnh của từng con người. Sự lớn dần, bon chen trong cuộc sống tìm cách sống còn theo bản năng, với thiên nhiên, với những người chung quanh đã khiến cho con người biến thành những con sâu xấu xí và nguy hiểm với dáng vẻ của tham lam, ích kỷ, hận thù, dục vọng, cuồng tín. Nhưng dù là xấu xí, và nguy hiểm, con người vẫn phải sống, vẫn phải đi tới, và vì thế thế cần phải biến đổi. Điều này chỉ có thể xảy ra khi con người tự nhận ra con người thật của mình với những khuyết điểm, những tham sân si, những đam mê dục vọng mang hình hài những con sâu đáng kinh tởm cần được đổi mới. Chỉ có như thế, thì con người mới có can đảm đi vào chiều sâu tâm linh để rồi, nó phải tự mình cuộn tròn trong chiếc kén của suy niệm, của nhận thức, và của chuyển đổi. Và như vậy, sau những âm thầm tu chỉnh, sau những năm tháng miệt mài chuyển đổi, lúc ấy con bướm tinh thần kia mới thực sự chào đời. Tâm linh con người mới phục sinh. 


Nhưng nếu “một cánh én không làm thành mùa xuân”, thì một con bướm cũng không làm cho bầu trời xuân của tâm hồn trở thành hoa sắc, rộn ràng và tươi đẹp được. Nó cần nhiều cánh bướm, và điều này cũng có nghĩa là tiến trình biến đổi ấy sẽ cứ phải nối tiếp như kiếp sống của loài bướm. Nói đúng hơn, một mùa chay tịnh tâm hồn, một lần cuộn mình trong cái vỏ suy tư, tĩnh lặng và chuyển đổi cho dù là 40 ngày nó vẫn không làm cho đời người trở nên phong phú, cho cuộc sống tâm linh được bảo đảm nhiều thành quả. Tiến trình biến hóa cần phải được lập đi, lập lại và cần phải được thực hiện một cách bền bỉ trong suốt hành trình cuộc sống của mỗi người.


Mùa Chay sẽ kết thúc bằng Phục Sinh đầy ánh sáng. Nhưng đó là Phục Sinh của Chúa Giêsu. Chính Ngài cũng phải mang hình ảnh một con bướm được lột xác từ những biến đổi rất khắc nghiệt, đó là cuộc đời thầm lặng suốt 30 năm trời trong ngôi nhà Nazareth. Đó là ba năm miệt mài rao giảng. Và nhất là cuộc Thương Khó và cái chết nhục nhã trên thập tự giá. Sau chót tiến trình phục sinh này đã là nguồn giải thoát cho toàn thể nhân loại.


Phục Sinh và cánh bướm. Hình ảnh và tiến trình biến hóa của loài bướm cũng chính là hình ảnh và tiến trình biến hóa nội tâm của chính tôi. Tôi không “mừng” Chúa phục sinh, mà tôi “phải” phục sinh với Ngài. Nhưng tôi không thể trở thành cánh bướm muôn màu sặc sỡ nếu tôi không loại bỏ cái xấu xí, gai góc của đời mình để cuộn mình vào chiếc kén suy tư, đổi mới. 

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

NHỚ LỜI CHÚA CHÚ NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN


... VÀ XEM TRƯỚC CHÚA NHẬT THỨ 3 THƯỜNG NIÊN NHÉ!


Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN

HẾT RƯỢU 



Chúng ta đừng để mình ... (Hết tình yêu thương, hết niềm tin, hết lòng mến...)


Ngày hôm nay, đứng trước một thực trạng lớn của đời sống xã hội và trong đó có nhiều gia đình Kitô giáo, chúng ta thấy rõ rằng có vấn đề. Có vấn đề vì lẽ con người đã đánh mất đi sự hiện diện của Chúa trong gia đình của mình, không mời Chúa vào dự tiệc cưới của gia đình mình và đặc biệt là không nghe theo lời của Chúa.

Chúa mới là chủ của gia đình, Chúa mới là nguồn mạch tình yêu của gia đình nhưng con người đã khước từ Thiên Chúa.

Nhìn vào thực trạng của Giáo Hội và Xã Hội ngày nay thì quá sức đau lòng. Mỗi ngày, trên các phương tiện truyền thông, ta nhìn thấy nhan nhản nhiều vụ án giết người, cướp của mà giết người cướp của hết sức dã man. Không thể tưởng được sự ác nơi con người ngày hôm nay. Có thể chỉ vài chục ngàn đồng bạc mà con người có thể loại trừ nhau.

Vì sao vậy ? Vì lẽ họ đã khước từ Thiên Chúa trong đời của mình, trong nhà của mình, trong cung lòng của mình.

Những người hành xử như thế là những người hành xử theo kiểu của những người hết rượu trong đời mình. Họ đã hết rượu tình yêu và men nồng của Chúa để rồi họ không còn một chút tình người với anh chị em đồng loại của mình.

Cuộc lữ hành đức tin của chúng ta như con sóng, có những lúc cao lúc thấp và rồi chúng ta nhiều lúc cũng thấy thiếu rượu đức tin và lòng mến trong lòng chúng ta. Khi thiếu đó, chúng ta thấy cần có sự hiện diện của Chúa trong ngôi nhà của chúng ta.

Trong những phạm nhân đó chắc có lẽ cũng có số người Công Giáo trong đó. Có nhiều gia đình, nhiều người đến than thân trách phận với tôi và tôi từ từ khợi lại hình ảnh ban đầu của gia đình họ để mời gọi họ nhận ra lỗ hổng tự ban đầu. Sau khi gợi chuyện thì những người làm cha làm mẹ đã thấy được cái lỗi của họ là đã không để Chúa làm chủ gia đình mình và không mời Chúa vào nhà của mình.

Hôm nay, với phép lạ và hồng phúc của gia đình nhỏ bé ở Cana, chúng ta, một lần nữa hãy bắt chước gia đình Cana tổ chức tiệc cưới hôm nay mời Chúa đến nhà chúng ta và đặc biệt hãy vâng theo Thánh ý Chúa trong cuộc đời của chúng ta.
Xin Chúa tiếp tục thực hiện phép lạ ...để chúng ta đừng bao giờ HẾT RƯỢU!

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 31 TN B



Giới răn trọng nhất.

Ngày đầu tiên bé vào trường nội trú. Bé đọc bản nội quy của trường và chán ngán. Bé tự hỏi không biết làm sao mình giữ nổi cả cuốn luật lệ đủ thứ, đủ loại này. Nhưng đến chiều, bé gặp bà hiệu trưởng. Bé thấy bà thật hiền hậu, dễ mến. Bà có nụ cười đầy thiện cảm. Bé thấy mến bà và thấy việc giữ những luật lệ của trường cũng chẳng có gì khó khăn lắm. Tình yêu đã làm cho những khó khăn mệt mỏi biến tan.
Trong Do thái giáo có tất cả 613 điều luật. Học thuộc những điều luật này đã là khó, nói chi đến việc cắt nghĩa cho chính xác và tuân thủ vẹn toàn. Vì thế trong đầu óc một tín hữu Do thái giáo luôn thấp thoáng câu hỏi: Luật nào là quan trọng nhất? Nhưng khi câu hỏi đạo đạt lên Chúa Giêsu, Chúa chỉ trả lời một câu thật chính xác và đầy đủ: Giới răn trọng nhất là hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức ngươi. Và giới răn thứ hai cũng giống giới răn thứ nhất là: ngươi hãy yêu người khác như chính mình ngươi. Như vậy Chúa Giêsu đã tóm gọn hơn sáu trăm khoản luật vào một câu vắn tắt: Mến Chúa và yêu người. Hay đúng hơn, Chúa đã tóm vào một chữ YÊU.
Đối với Thượng Đế, các triết gia, các tôn giáo thường diễn tả như một nhân vật đòi buộc người ta tôn thờ, kính sợ và tuân phục. Đối với người Do thái thì vẫn giữ những tâm tình ấy đối với Thiên Chúa, nhưng trước hết phải yêu mến Thiên Chúa. Độc đáo của Cựu Ước là hướng dẫn con người trung thành trong một giao ước tình yêu. Đặc biệt Chúa Giêsu đã đặt mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa trong tình cha con. Chúng ta sống với Thiên Chúa trong bầu khí gia đình thân thương. Tình phụ tử đó Thiên Chúa đã biểu lộ ở mức độ cao nhất và hoàn hảo nhất: Chúa đã yêu ta đến nỗi đã ban Con của Người đến làm lễ vật đền tội chúng ta. Phần chúng ta, cũng phải biểu lộ tình yêu đối với Thiên Chúa bằng hết khả năng của mình, tinh thần cũng như thể xác và cả linh hồn nữa.
Còn đối với anh chị em đồng loại, chúng ta phải yêu thương mọi người. Điều quan trọng là tình yêu đó không xây dựng trên liên hệ máu thịt, không do cảm tính, nhưng dựa trên liên hệ tình yêu với Thiên Chúa. Chúng ta nhận Thiên Chúa là cha và mọi người là anh chị em ruột thịt.
Chúa Giêsu đã đẩy tình yêu anh em lên mức độ tuyệt đỉnh: phải yêu anh em như yêu Chúa. Ai giúp đỡ một người bé mọn nhất là giúp đỡ chính Chúa. Và yêu với mức độ như Chúa đã yêu: Các con hãy yêu nhau như Thầy đã yêu các con, và không có tình yêu nào lớn bằng hiến mạng sống vì bạn hữu.
Chúa bảo mến Chúa và yêu người phải đi đôi với nhau. Thiên Chúa đòi ta yêu mến Ngài như một người cha, nhưng tình yêu này phải được biểu lộ trong tình yêu đối với anh em. Phải yêu mến anh em mới chứng tỏ mình yêu mến Chúa. Vì yêu anh em là chứng thực mình là con Thiên Chúa, và chứng tỏ mình tuân giữ lời Chúa dạy.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn nhận ra tình thương bao la của Chúa đối với chúng con để chúng con có thể yêu mến Chúa trên hết mọi sự và sống tình huynh đệ với mọi người. Xin giúp chúng con chu toàn mọi giới răn Chúa vì yêu mến Người.

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

LỜI CHÚA LỄ ĐÊM GIÁNG SINH

Lễ Giáng Sinh NỮA ĐÊM
Bài Đọc I: Isaia 9:1-6 II: Titô 2:11-14
Phúc Âm
Luca 2:1-14
1 Thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.
2 Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria.
3 Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.
4 Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành Bêlem, miền Giuđê, là thành vua Đavít, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đavít.
5 Ông lên đó khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai.
6 Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.
7 Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
8 Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.
9 Và kìa sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.
10 Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:
11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa.
12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ".
13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
14 Vinh danh Thiên Chúa trên trời. bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
Chi Tiết Hay
·        (c. 2) Quirinius: Thống đốc của Syria trong các năm 6 và 7. Khó có thể xác định một cách chính xác năm sanh của Đức Giêsu vì cuộc kiểm tra nhắc đến trong đoạn Phúc Âm này xảy ra sau năm 6, trong khi Phúc Âm Thánh Luca (1:5) kể lại sự Giáng Sinh của Đức Giêsu xảy ra dưới thời Vua Hêrôđê, người đã trị vì từ năm 37 cho đến năm thứ 4 trước Công Nguyên và đã mất trước khi Quirinius lên cai trị Syria.
·        (c. 3) Nazarét là một làng trong xứ Galilê, cách biển hồ Galilê 15 dặm về phía tây nam. Bethlehem có nghĩa là "nhà chứa bánh" và là đất tổ của dòng dõi vua Đavít.
·        (c. 7) Con đầu lòng được coi như là một ngôi thứ đặc biệt trong luật Môisen. Người KiTô hữu hiểu rằng Đức Giêsu là "trưởng tử giữa một đàn em đông đúc" (Rom 8:29) theo ý nghĩa thiêng liêng.
·        Tã lót và máng cỏ là biểu hiệu của sự nghèo khó. Không có chỗ trú trong quán trọ và phải dùng máng cỏ là hai sự kiện cho thấy Thánh Giuse và Mẹ Maria đã nghỉ đêm ở nơi chuồng súc vật.
·        Máng cỏ là nơi để đồ ăn. Chúa nằm trong máng cỏ là thức ăn nuôi sống muôn dân. [JEROME]
·        (cc.13-14) Các thiên thần hát khen với những lời vinh danh cao cả nhất dành cho Chúa Hài Đồng, dù Người đã đến thật khiêm tốn.
Giới chăn chiên là hạng người nghèo, vô học, thường bị tình nghi ăn cắp, và được xếp hạng thấp nhất trong xã hội chung với kẻ thu thuế cho quân địch và chung vơí bọn đĩ điếm [FULLER]. Vua David khi còn nhỏ, trước khi được chọn làm vua, cũng đi chăn chiên. Vậy sự hiện diện của các mục đồng có hai ý nghĩa: Chúa đến với người nghèo, và Chúa giống vua David.
Một Điểm Chính
Đoạn Phúc Âm này kể lại sự ra đời một cách khiếm tốn của Đức Giêsu, Đấng Cứu Tinh của nhân loại. Người được sinh ra trong cảnh cơ hàn và được đón mừng bởi những kẻ nghèo hèn nhất. Tuy nhiên, sự Giáng Sinh của Người lại được các thiên thần loan báo là "Tin Mừng đến với mọi dân tộc".
Suy Niệm
1.     Tôi đã đón nhận Tin Mừng về Đấng Cứu Tinh của nhân loại và của chính cá nhân tôi như thế nào?
2.     Khi đã quyết tâm theo Đức Kitô, tôi làm thế nào để đến với những người thấp hèn hay "nghèo khó" trong mọi khía cạnh của đời sống, và những người đang đau khổ về thể xác hoặc tinh thần? Tôi sẽ đem "Tin Mừng" đến với họ bằng cách nào?
3.     Tôi có sẵn sàng bỏ đi những gì tôi đang có, như Đức Kitô đã từ bỏ ngai vị của Người trên Trời, để đến với những người thấp hèn và nghèo khó nhất? Bỏ dời sống vật chất của tôi? Bỏ thời giờ của tôi? Bỏ sự thoải mái dễ chịu của cá nhâ n tôi?

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

LỜI CHÚA - CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG

Phúc Âm
Máccô 13:33-37
33 "Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.
34 Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức.
35 Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.
36 Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ.
37 Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!"

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

LỜI CHÚA - CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN

Chúa Nhật 32 Thường Niên
Phúc Âm
Matthêu 25:1-13
1 Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn của mình ra đón chú rể.
2 Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn.
3 Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo.
4 Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo.
5 Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả.
6 Nửa đêm, có tiếng la lên: "Kìa chú rể, ra đón đi!"
7 Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn.
8 Các cô dại nói với các cô khôn rằng: "Xin các chị cho chúng em chút dầu của các chị, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!"

9 Các cô khôn đáp: "Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn".
10 Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại.

11 Sau cùng mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: "Thưa Ngài, thưa Ngài! Mở cửa cho chúng tôi với!"
12 Nhưng Người đáp: "Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!"
13 Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào giờ nào.
Chi Tiết Hay
·        Theo tục lệ của người Do Thái thì đám cưới là một cơ hội đặ biệt. Toàn thể dân cư trong làng sẽ cùng đi bộ với cô dâu chú rể đến nơi cư ngụ mới của họ. Ngay cả những thầy Do Thái vào thời đó cũng đồng ý bỏ qua những giờ học luật để tham gia ngày hội.
·        Không giống như văn hóa tây phương, đi hưởng tuần trăng mật là chuyện không bao giờ nghe nói tới. Thay vào đó thì đôi vợ chồng mới sẽ ở nhà trong vòng một tuần để chung vui với khách mời và chỉ có những người bạn tuyển chọn mới được phép tham gia.
·        Trước khi nghi lễ bắt đầu, chú rể phải thương lượng với gia đình cô dâu; không có lời tuyên bố nào cho biết là bao giờ cuộc thương lượng mới chấm dứt.
·        Cuối cùng khi chú rể tới, thông thường thì sẽ có một người đến và nói "Hãy sẵn sàng, chú rể đang tới!" Việc đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, có khi xảy ra ngay vào lúc nửa đêm. Vì thế, phía nhà gái phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng ra nghênh đón chú rể.
·        Khi trời tối, không ai được phép đi ra ngoài mà không cầm theo đèn. Sau khi chú rể tới, các cửa sẽ được đóng lại ngay lập tức. Những khách đến trễ sẽ không được vào. Người Do Thái cho rằng làm khách mà đến trễ thì đó là một sự sỉ nhục.
Một Điểm Chính
Giờ Chúa đến thì không thể đoán trước được. Không có một trường hợp ngoại lệ nào cho những ai không chuẩn bị cho ngày Nước Trời đến.
Suy Niệm
1.      Tại sao có năm cô trinh nữ khờ dại và năm cô trinh nữ khôn ngoan? Phải chăng điều đó ám chỉ rằng chỉ có một nửa thế giới của chúng ta sẽ được lên Thiên Đàng? Như vậy phải chăng sẽ không có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ được lên Thiên Đàng? Hay là có thể năm cô trinh nữ khôn ngoan kia có khả năng chia sẻ dầu thắp đèn cho năm cô trinh nữ khờ khạo nhưng lại không chịu làm như vậy vì nước Trời thì quá xa để mà làm bất sự mạo hiểm nào khác.
2.      Có khi nào chúng ta không chịu chuẩn bị cho điều gì mà chúng ta biết trước là chúng ta nên chuẩn bị, thí dụ như chuẩn bị chu đáo cho một kỳ thi kiểm tra trong lớp? Giả dụ kỳ thi được chấm điểm một cách nghiêm minh và chúng ta bị điểm thấp. Chúng ta sẽ tự trách mình hay đi trách thầy giáo?
3.      Hãy lắng đọng và suy nghĩ xem chúng ta đã và đang chuẩn bị cho ngày tái lâm của Chúa Giêsu ra sao? Hay có khi nào chúng ta suy nghĩ đến chuyện đó hay không? Những gì chúng ta đang làm liệu có đủ chưa? Những gì chúng sẽ phải chuẩn bị cho nước Trời như là một cá nhân, như là một cộng đoàn, và như là một thế giới.

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN

Phúc Âm
Matthêu 23:1-12
1 Bấy giờ, Đức Giê su nói với đám đông và các môn đệ Người rằng:
2 "Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên tòa ông Môsê mà giảng dạy.
3 Vậy, những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm.
4 Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì không buồn động ngón tay vào.
5 Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài.
6 Họ ưa ngồi cổ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường,
7 ưa được người ta chào hỏi ở nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "rápbi".
8 "Phần anh em thì đừng để ai gọi mình là "rápbi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.
9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trờí.
10 Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô.
11 Trong anh em người làm lớn hơn cả, phải là người phục vụ anh em.
12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.
Chi Tiết Hay
·        (c.2) Ghế của Môsê là biểu tượng cho quyền được giảng dạy và điều hành của các kinh sư và người Pharisêu trên dân Do thái.
·        (c.5) Hộp kinh: theo luật Môsê thì trong các buổi cầu nguyện mọi người phải mang ở cánh tay trái và ở trên trán những hộp nhỏ bằng da trong đựng những mảnh giấy da mỏng có viết lời kinh thánh (Xuất Hành 13:9,13:16; Thứ Luật 6:8,11:18).
·        Luật Môsê cũng buộc phải gắn những tua áo ở góc áo mặc ngoài để nhắc nhở giữ các giới răn (Dân Số 15:37-39; Thứ Luật 22:12). Chúa Giêsu cũng theo truyền thống đó (Mt 9:20, 14:36). Làm hộp kinh lớn, tua áo dài hơn cốt mục đích là để kheo khoan sự giữ đạo.
·        (cc.8-12) "Rabbi" dịch sát nghĩa là "đấng khả kính", một danh hiệu kính trọng cho các bậc thầy và các nhà lãnh đạo. Trong phúc âm Thánh Matthêu chỉ có Giuđa gọi Chúa Giêsu là "rabbi" (Mt 26:25,49). Vào thời đó, người đương thời có lẽ dùng những danh hiệu rabbi, cha, thầy để trọng kính các môn đồ; Chúa Giêsu trong phúc âm Thánh Matthêu không những cấm dùng những danh hiệu đó mà còn cấm cả tinh thần địa vị và tự hãnh.
 Một Điểm Chính
Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

BÀI TIN MỪNG & SUY NIỆM CẦU NGUYỆN

CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO (Mc 16,15-20)

Người nói với các ông: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án.17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ.18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ."19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

ĐỨC MARIA, MẪU GƯƠNG TRUYỀN GIÁO

Đôi khi tôi tự hỏi, tại sao Chúa Nhật Truyền Giáo lại được nhắc trong tháng Mân Côi, tháng dâng kính Đức Mẹ, cùng với Đức Mẹ chiêm ngắm tình thương của Thiên Chúa, bằng những tràng chuỗi đơn sơ và thành kính nhất qua lối cầu nguyện theo Tin Mừng. Những dòng suy niệm này trả lời cho tôi câu hỏi đó.

DẪN LỄ CHÚA NHẬT - CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

Rao Giảng Tin Mừng Cứu Rỗi
(Is 60,1-6; 1Tm 2,1-8; Mc 16,15-20)

- Dẫn vào Thánh Lễ:
Kính thưa quý ông bà và chị em,
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã truyền cho Giáo Hội : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho muôn dân”.  Nhưng đến nay đã trải qua trên hai ngàn năm / mà vẫn còn hai phần ba nhân loại trên thế giới chưa nhận biết Chúa Kitô, Cứu Chúa của chúng ta.

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011

LỜI CHÚA NGÀY CHÚA NHẬT



CHÚA NHẬT XXIX TN A
Mt 22, 15-21


TIN MỪNG

15 Bấy giờ những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy.

16 Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta.17 Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không? "

18 Nhưng Đức Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói: "Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình!19 Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế! " Họ liền đưa cho Người một quan tiền.20 Người hỏi họ: "Hình và danh hiệu này là của ai đây? "21 Họ đáp: "Của Xê-da." Bấy giờ, Người bảo họ: "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa."22 Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi.

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

LỜI CHÚA - CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN

 
Bài Đọc I: Isaia 25:6-10
Bài Đọc II: Philipphê 4:12-14,19-20

Bài Phúc Âm
Matthêu 22:1-14
1 Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng:
2 Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình.
3 Nhà vua sai các đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến.
4 Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ: "Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!"
5 Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại,người thì đi buôn,
6 còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết.
7 Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng.
8 Rồi nhà vua bảo đầy tớ: "Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng.
9 Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới".
10 Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

11 Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới,
12 mới hỏi người ấy: "Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?" Người ấy câm miệng không nói được gì.
13 Bấy giờ, nhà vua bảo những người phục dịch: "Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chổ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng!
14 Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít".
Chi Tiết Hay
·        (cc.1-2) Nhà vua là Thiên Chúạ Hoàng tử là Chúa Giêsụ Gia nhân được sai đi là các tông đồ.

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

CÁC BÀI ĐỌC LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI
(các bài đọc trong thánh lễ)
Bài đọc I: Cv 1,12-14: “Họ kiên trì cầu nguyện cùng Bà Maria, Mẹ Chúa Giêsu”.
Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các Tông đồ xuống khỏi núi gọi là Núi Cây Dầu mà trở về Giêrusalem, núi này ở gần Giêrusalem, bằng quãng đường được đi trong này sabát. Và khi đã trở vào thành, các ông lên lầu gác, nơi Phêrô và Gioan, Giacôbê và Anrê, Philípphê và Tôma, Batôlômêô và Mátthêu, Giacôbê con ông Anphê và Simon Giêlôtê, và Giuđa con ông Giacôbê, trú ngụ. Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, và Bà Maria Mẹ Chúa Giêsu với các anh em Người.
Đáp ca: 1 Sm 2,1.4-5.6-7.8
Đáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Đấng Cứu độ tôi (c. 1a).
1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi.
2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn.
3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao.
4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang.

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Lời Chúa - Chúa Nhật 26 Thường Niên

Phúc Âm
Matthêu 21:28-32

28 Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho".
29 Nó đáp: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi.
30 Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây!" nhưng rồi lại không đi.
31 Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?" Họ trả lời: "Người thứ nhất". Đức Giêsu nói với họ: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.
32 Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy".

Chi Tiết Hay
·      Khung cảnh: Các thượng tế và kỳ lão trong dân chống đối Chúa, đụng độ nảy lửa, làm họ nhất tâm bắt giết Chúa.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Nhớ Lời Chúa Chúa Nhật 25 TN


01. Ông chủ trong dụ ngôn mướn thợ làm gì? (Mt 20, 1)
a. Đi chăn chiên.
b. Làm vườn nho.
c. Đi đánh cá.
d. Đi gieo lúa.

02. Theo thỏa thuận, mỗi ngày người thợ lãnh được bao nhiêu quan tiền? (Mt 20, 2)
a. 1 quan tiền.
b. 2 quan tiền.
c. 4 quan tiền.
d. 7 quan tiền.

03. Nhóm thợ cuối cùng được ông chủ mướn vào giờ thứ mấy? (Mt 20, 6)
a. giờ thứ 3.
b. giờ thứ 6.
c. giờ thứ 9.
d. giờ thứ 11.

04. Những ai cằn nhằn ông chủ khi họ lãnh 1 quan tiền? (Mt 20, 10)
a. Những người vào làm trước nhất.
b. Những người vào làm giờ thứ 3.
c. Những người vào làm giờ thứ 9.
d. Những người vào làm giờ thứ 11.

05. Lời ông chủ nói với những người cằn nhằn là: “Hay bạn thấy tôi … … …, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20, 15)
a. Hiền lành.
b. Tốt bụng.
c. Công bằng
d. Bác ái