TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH

TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH


HỌ ĐẠO CÁI QUAO KÍNH CHÚC QUÝ CHA, QUÝ TU SĨ NAM NỮ VÀ ANH CHỊ EM GIÁO DÂN ...MỘT MÙA GIÁNG SINH TRÀN ĐẦY TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA!
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỎI ĐÁP KINH THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỎI ĐÁP KINH THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

CÙNG TÌM HIỂU


Thánh Truyền Là Gì?

Hỏi : xin cha giải thích điều gọi là Thánh Truyền trong niềm tin của Giáo Hội.
Trả Lời: Theo giáo huấn của Giáo Hội thì Kinh Thánh ( Sacred Scripture) Thánh Truyền ( Sacred Tradition) hay còn gọi là Truyền Thống Tông Đồ ( Apostolic Tradition) và Mặc Khải ( Divine Revelation) là những nguồn suối đức tin  cho ta biết có Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật, có Chúa Con là Đấng Cứu Chuộc nhân loại đã đến trần gian rao giảng Tin Mừng Cứu Độ  và Chúa Thánh Thần là Thần Chân lý và là Đấng ban sự sống.
Đây là Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi mà chỉ những ai có niềm tin  Thiên Chúa và vâng phục giáo lý của Giáo Hội mới có thể tin và chấp nhận được.
Theo Giáo Hội dạy thì Thánh Truyền là " mang lời của Thiên Chúa đã được Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ủy thác cho các Tông Đồ và truyền đạt lời Chúa cách nguyên vẹn cho những người kế vị các Tông Đồ để các vị này gìn giữ, trình bày và truyền bá lời  đó cách trung thành khi giảng dạy." ( x. SGLGHCG số 81)
Từ định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng lời  Chúa là chính Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, mà các Tông Đồ đã được nghe trong suốt 3 năm theo Chúa đi rao giảng, dạy dỗ và chứng kiến Người làm nhiều phép lạ.Tuy nhiên, trong những năm cuối của thể kỷ thứ nhất, sau khi Chúa Kitô đã hoàn tất công trình Cứu Chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết, sống lại và lên Trời, Kinh Thánh Tân Ước chưa có, nên các Tông Đồ chỉ dạy truyền khẩu cho các tín hữu thời sơ  khai đó những gì các ngài đã nghe được từ chính Chúa Giêsu là Nguồn Chân Lý  đức tin và giáo lý tinh tuyền. Các ngài đã giảng dạy, gìn giữ kho tàng thiêng liêng đó nguyên vẹn  để trao lại cho các vị kế tục sứ mạng Tông Đồ trong Giáo Hội  như Thánh Phaolô  đã nói với môn đệ ngài là Ti-mô-thê như sau về di sản thiêng liêng  này :
        " Anh Ti-mô-thê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí, trống rỗng, và những vấn đề trí thức giả hiệu. Có những kẻ , vì chủ trương cái trí thức đó, nên đã lạc mất đức tin. Chúc anh  em được ân sủng." ( 1 Tm 6 : 20-21)
Ngoài ra, trong thứ thứ hai gửi cho Ti-mô-thê, Thánh Phaolô cũng nói thêm với  môn đệ này như sau :
         " Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Kitô Giêsu, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo Lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo  toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta. ( 2 Tm 1 : 12-14)
Như thế có nghĩa là- trước khi có Kinh Thánh Tân Ước làm tài liệu học hỏi và giảng dạy,  các Thánh Tông Đồ  chỉ  dạy truyền khẩu  những gì các ngài đã nghe  từ chính Chúa Giêsu và truyền lại  cho các vị kế nghiệp các ngài  trong Giáo Hội để tiếp tục dạy dỗ  không sai lầm những giáo thuyết mà Chúa Kitô đã giảng dạy  cùng những việc Chúa đã làm như chữa lành cho biết bao bệnh nhân, trừ quỉ , làm phép lạ hóa bánh và cá  ra nhiều cho hàng ngàn người ăn no đủ, cũng như cho người chết sống lại. Các Tông Đồ đã ghi nhớ những việc Chúa làm và lời Người giảng dạy,  nên sau này hai  Tông Đồ  Matthêu và Gioan đã cùng với Maccô và Luca ( môn đệ của Phaolô)  đã viết thành 4  Phúc Âm cộng thêm những Thư mục vụ quan trọng  ( Epistles) của các Thánh Phaolô, Phê rô, Gioan, Gia-cô-bê, Giuđa ghi lại những lời giảng dạy và những việc Chúa Giêsu  đã làm để Giáo hội có thêm nguồn chân lý  đức tin là Kinh Thánh Tân Ước để dạy cho dân Chúa, như chúng ta thấy ngày nay.
Nhưng như đã nói ở trên, trước khi có Kinh Thánh Tân Ứớc  được viết ra với  ơn linh ứng ( inspired)  của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ chỉ rao giảng và dạy truyền khẩu, nhưng chính xác các giáo lý mà  Chúa Giêsu  đã  giảng dạy  và truyền lại cho những người kế vị để dạy  cho Giáo Hội  trong buổi ban đầu đó. Những di sản thiêng liêng này được  bảo tồn  nguyên vẹn để truyền lại  cho các thế hệ sau trong Giáo Hội tiếp tục sứ mạng Tông Đồ mà Chúa Kitô đã trao phó trước khi Chúa về trời ,là " anh  em hãy đi khắp nơi , loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.." ( Mk 16: 15)
           Thánh Tông Đồ Giuđa cũng nói thêm về Truyền Thống Tông Đồ  như sau :
     " anh  em thân mến , tôi vẫn ước mong viết thư cho anh  em về ơn cứu độ chung của chúng ta , thì nay lại bó buộc phải viết cho anh  em, để khuyên nhủ anh  em chiến đấu cho đức tin đã được truyền lại cho các thánh  chỉ một lần là đủ. ( Gđa 3)
Nghĩa là chính các  Thánh Tông Đồ đã  một lần truyền lại giáo lý tinh tuyền, lành mạnh, đức tin vững chắc mà các ngài đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu cho các vị kế nghiệp các ngài là các Giám mục trong Giáo Hội từ đầu cho đến ngày nay.Qua các Thư mục vụ có ơn linh ứng, chúng ta đọc được những lời  các Thánh Tông Đồ khuyên nhủ các tín hữu ban đầu phải giữ gìn các truyền thống  và giáo lý  đã được các ngài dạy dỗ và truyền lại cách chính xác  như Thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca như sau :
         " Vậy thưa anh  em, anh  em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh  em bằng lời nói hay bằng thư từ." (2 Th 2: 15)
Không những các Tông Đồ truyền lai những giáo huấn của Chúa Kitô  mà còn truyền lại cả những chỉ thị  hay tiêu chuẩn để chọn người thay thế các ngài như Thánh Phaolô đã căn dặn  môn đệ ngài là Titô như sau :
     " Tôi đã để anh ở  lại đảo  Kêta chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức và đặt những kỳ mục ( Giám mục) trong mỗi thành như tôi đã truyền cho anh....Thật vậy , Giám quản , với tư cách là quản  lý của Thiên Chúa,  phải là người không chê trách được, không ngạo mạn, không nóng tính, không nghiện rượu, không hiếu chiến và không tìm  lợi lộc  thấp hèn...." ( Tt 1: 2-7)
Những lời căn dặn trên đây của Thánh Phaolô cho thấy các Tông Đồ của Chúa Kitô  đã rất thận trọng trong việc chọn người kế vị các ngài để cai trị, dạy dỗ  và thánh hóa dân Chúa trong Giáo Hội.
Ước mong sao các vị kế nghiệp các Thánh Tông Đồ ngày nay  tuân giữ những chỉ thị trên khi chọn người thay thế mình trong sứ mạng Tông Đồ để không chọn lầm những người không xứng đáng vào vai trò lãnh đạo trong các Giáo Hội địa phương.( Giáo phận).
Qua dòng thời gian Thánh Truyền vẫn sống động và tiến triển nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và gìn giữ để kho tàng linh thánh tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội trong sứ mạng dạy dỗ, thánh hóa và cai trị dân Chúa thay mặt Chúa Kitô trên trần gian này.
Như thế, Thánh Truyền cũng là những lời giảng dạy đức tin vững chắc , giáo lý tinh tuyền cũng như chỉ thị về việc cắt đặt người cai quản, lên thay thế  các ngài trong Giáo Hội từ  khởi thủy  cho đến ngày nay. Dựa vào Truyền Thống này ,Giáo Hội tiếp tục  học hỏi cắt nghĩa  và giảng dạy Lời Chúa  được mặc khải qua Kinh Thánh và Thánh truyền  để dạy đỗ không sai lầm những chân lý đức tin và nền tảng luân lý cho mọi tín hữu  trong Giáo Hội Công Giáo, được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ để chuyên chở  ơn cứu Độ của Chúa đến  hết mọi dân , mọi nước cho đến ngày mãn thời gian.
 Sau hết, các Tông Đồ không những chỉ dạy dỗ các tín hữu thời sơ khai với giáo lý vững chắc và lành mạnh mà còn  khuyên nhủ tín hứu phải chiến đấu để bảo vệ giáo lý đức tin đó, vì ngay trong buổi ban đầu đã có " những người đã len lỏi vào, những người  từ lâu  đã bị ghi trước vào danh sách những kẻ bị lên án. Những kẻ vô luân này đã biến ân sủng của Thiên Chúa chúng ta thành lý do biện minh cho lối sống dâm ô, họ chối bỏ Chúa chúng ta là Đức Giêsu-Kitô, vị Chúa Tể duy nhất." ( Gđa 4).
Giáo Hội dạy những giáo lý, tín lý , luân lý  và lời Chúa  với quyền Giáo Huấn ( Magisterium), một  công cụ Chúa Thánh Thần dùng để giúp Giáo Hội dạy dỗ không sai lầm những chân lý đức tin và nền tảng luân lý được các Thánh Tông Đồ truyền lại cho các vị  kế tục là các Giám mục trong Giáo Hội. Do đó ai nghe Giáo Hội là nghe các Thánh Tông Đồ và nghe các ngài  là nghe  chính Chúa Kitô đã gọi và sai họ đi rao giảng như Chúa đã nói rõ trong Tin Mừng Thánh Luca  sau đây:
         " Ai nghe anh  em là nghe Thầy, và ai khước từ anh  em là khước từ Thầy;
                       Mà  khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc  10: 16)
Thánh Truyền  có liên hệ mật thiết với Thánh Kinh vì cả hai đều xuất phát từ một Nguồn mạch là Thiên Chúa.Thánh Kinh là Lời Chúa đã  được ghi chép lại bằng ngôn ngữ loài người dưới  sự linh ứng  của Chúa Thánh Thần. Do đó, sách nào không  được coi là có ơn linh ứng thì không được công nhận là Sách thánh. Như vậy chỉ có 45 Sách Cựu Ước và 27 Sách Tân Ước ( 4 Phúc Âm, Sách Tông Đồ công vụ  và các thư Mục Vụ) được công nhân là có ơn Linh ứng  mà thôi.Và đây là toàn bộ Kinh Thánh mà Giáo Hội Công Giáo đọc và giải thích Lời Chúa.
Thánh Kinh và Thánh truyền đều có chung một mục đích là loan truyền lời Chúa bằng văn tự hay truyền lại bằng lời nói những gì các Tông Đồ đã nghe từ  Chúa Kitô trong suốt ba năm Người dạy dỗ họ  và dân chúng, cũng như chứng kiến những việc Chúa làm để lưu truyền cho hậu thế.
Thánh Truyền, tức Truyền Thống Tông Đồ,  khác với các truyền thống trong Giáo Hội như : truyền thống " thần học , kỷ luật, phụng vụ hoặc sùng đạo đã nảy sinh nơi các giáo hội địa phương qua dòng thời gian.Nhứng truyền thống này là những hình thức riêng biệt để đón nhận Truyền Thống  ( Thánh Truyền) của Giáo Hội tại những địa phương khác nhau và ở những thời đại khác nhau.Dưới ánh sáng của Truyền Thống chung này, các truyền thống riêng biệt đã được duy trì , sửa đổi hoặc bị bãi bỏ dưới sự dẫn dắt của Huấn Quyền Giáo Hội."  ( x SGLGHCG số 83)
Thí dụ cụ thể : trong nhiều giáo hội địa phương ở Viêt Nam và Phi luật Tân ( các giáo phận) có truyền thống tưởng niệm Tuần Thánh với những nghi thức đóng đanh Chúa,( ở Phi luật Tân và Mễ Tây Cơ, có nơi đã đóng đanh thật một người đóng vai Chúa ! Nhưng  việc này đã bị Giáo quyền địa phương ngăn cấm gần đây) hạ xác Chúa và viếng xác Chúa trong ngày Thứ sáu Tuần Thánh. Đây là truyền thống địa phương chứ không phải là Thánh  Truyền.
Thánh Truyền chỉ truyền lại sự kiện Chúa bị kết án, bị hành hạ và bị đóng đanh đề đền  tội cho cả và loài người. Nhưng do lòng đạo đức, các thừa sai đã dạy cho  các tín hữu ở nhiều địa phương làm sống lại các sự kiện trên với những nghi thức dân gian đặc  biệt và trở thành truyền thống cử hành mỗi năm vào Mùa Chay và Tuần Thánh ở một số địa phương chứ không ở khắp nơi trong Giáo Hội.
Lại nữa và quan trọng hơn, Thánh Truyền tôn trọng nguyên tắc chỉ chọn người nam ( nam giới)  vào các chức vu giám quản( giám mục) và phụ tá ( linh mục ) như Chúa Giêsu đã chọn các ngài.( Chúa không chọn phụ nữ nào làm Tông Đồ) Và cũng theo Thánh Truyền thì không có việc rửa chân cho phụ nữ, mà chỉ cho nam giới như Giáo Hội cử hành hàng năm tại Rôma trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh.( Chúa Giêsu cũng không rửa chân cho phụ nữ nào kể cả cho Đức Maria là Mẹ của Người).
Vậy , đòi cho phụ nữ làm linh mục hay rửa chân cho nữ giới là sai Truyền Thống Tông Đồ.
Tóm lại, Thánh truyền là di sản thiêng liêng được các Tông Đồ lưu trữ và truyền lại cho các vị kế tục trong Giáo hội để dạy dỗ chính xác  các giáo lý đức tin mà Chúa Giêsu đã giảng dạy và làm gương sáng cho mọi  thế hệ  học hỏi và noi theo.
Chúng ta chân quý Thánh Truyền hay Truyền Thống Tông Đồ vì nhờ đó chúng ta được thêm vững tin trong chân lý của Đạo Thánh mà Chúa Kitô đã mang xuống từ Trời cho chúng ta tin và thực hành để được cứu độ như lòng Chúa mong muốn. ( cf 1 Tm 2 : 4).
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn (Nguồn dunglac.org)

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Đức Tin và Khoa Học

Phải chăng khoa học đi ngược lại lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh? Có nhiều người đã nghĩ như vậy và cho rằng khoa học và lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh hoàn toàn không thể đi đôi với nhau được, vì một bên dựa trên những lý chứng rõ ràng minh bạch, còn bên kia lại dựa trên đức tin và mang tính chất truyền thuyết giả tưởng. Vì thế, họ cho rằng bao lâu lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh còn được khẳng định thì không thể nói đến thuyết tiến hóa, vì có hai lý do đối kháng giữa Kinh Thánh và khoa học không thể vượt qua được.
Lý do thứ nhất: Trong khi theo Kinh Thánh thì trước hết Thiên Chúa đã dựng nên trái đất và tiếp đến mới dựng nên các tinh tú, khoa học tân tiến ngày nay về vũ trụ lại cho rằng trái đất là một trong số các hành tinh được hình thành về sau này, kết quả của một cuộc nổ tung vĩ đại (big Bang) trong vũ trụ trên dưới 14 tỷ năm về trước.
Lý do thứ hai: Trong khi theo Kinh Thánh thì trước khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã dựng nên các thứ thú vật và những cây cỏ xanh tươi làm lương thực cho chúng, một hình ảnh đầy hiền hòa của vườn Địa đàng, thuyết tiến hóa lại chứng minh rằng trước khi có sự hiện hữu của con người trên trái đất thì đã có những dã thú ăn thịt rất hung dữ, chứ không chỉ gặm cỏ cách hiền hòa mà thôi.
Ngoài hai lý do đối kháng trên đây, còn một lý do khác nữa, đó là: Theo sự trình thuật của sách Sáng Thế Ký thì vũ trụ được dựng nên trước khi xảy ra sự sa ngã phạm tội của ông A-dong và bà E-và, nhưng theo ý kiến khoa vũ trụ học và thuyết tiến hóa thì sự sa ngã phạm tội của ông A-dong xảy ra trước khi có vũ trụ, tức vũ trụ chúng ta sống.

Thật ra, sự kiện con người bị trục xuất ra khỏi vườn Địa đàng không có nghĩa là Thiên Chúa đã dựng nên một vũ trụ thứ hai như nơi đày ải đầy khổ cực, thay thế cho vũ trụ thứ nhất đã bị hủy hoại do tội nguyên tổ gây ra, và trong vũ trụ thứ hai ấy con người phải sống cuộc sống đầy gian lao vất vả sau khi đã phạm tội và vị trục xuất khỏi vườn Điạ đàng. Nhưng sự thật là vườn Địa đàng bị khóa lại và thay vào đó là một thế giới đã trở nên hư hỏng do tội lỗi gây nên.

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

Ý nghĩa của chữ ''anh em'' trong Kinh Thánh

                             
  Vài hàng dẫn nhập
 
''Của Xêda thì trả về cho Xêda. CỦA Thiên Chúa thì trả về cho Thiên Chúa.'' (Marcô 12,17) Cung Lòng Mẹ Maria là CỦA Một Mình Thiên Chúa Cứu Chuộc là Giêsu. Cho nên, trong bài này, trước khi chứng minh rằng GIACÔBÊ, GIUSE, GIUĐA, SIMON không phải là EM cùng MẸ với Chúa Giêsu, tôi chỉ nêu lên một số nghĩa của chữ ANH EM (1) được dùng trong Kinh Thánh. Vì việc chứng minh như vừa nêu phải rõ ràng và để khỏi ''nhầm trước, quên sau'' như tôi, thiết tưởng cần ghi lớn, tô màu và gạch dưới nhiều chữ để người đọc dễ nhận ra và đối chiếu các chữ quan trong ấy. 
I. Ý Nghĩa của Chữ ANH EM
Chữ ANH EM trong Kinh Thánh tiếng Việt có cùng nghĩa với chữ Hy-lạp: δελφσ (adelphos), chữ La-tinh, Pháp, Anh, Đức là ''frater, frère, brother, Bruder'' như sau: ''anh em cùng cha-mẹ; anh em khác cha hay mẹ; anh em trong dòng tộc; người đồng hương hay đồng bào; bạn đồng hành; người cùng lý tưởng; người đồng nghiệp hay đồng sứ mạng; anh em trong Chúa Kitô; tông đồ nói chung; anh em cùng một Cha trên Trời; mọi người kể cả địch thù'' như Lời Chúa dạy: ''Song hãy thương yêu ĐỊCH THÙ và hãy làm ơn, hãy cho vay mượn, mà chẳng trông báo đền. Như vậy, phần thưởng dành cho các con sẽ lớn lao, và các con sẽ là con cái của Ðấng Tối Cao vì Ngài nhân hậu với người vô ơn và phường độc ác." (Luca 6,35) Tại sao con thấy cái rác trong mắt của ANH EM con, mà cái xà trong mắt của mình thì lại không để ý tới? (Math. 7,3)

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Bia đá 10 điều răn – Vấn đề tạc tượng


Bia đá Mười điều răn hiện ở đâu? Phải hiểu việc vẽ hoặc tạc tượng thánh thế nào? Và hiệu quả của ơn toàn xá là sao?
Con kính chào quý cha, quý thầy và cho con xin hỏi :
1/ hai bia đá khắc mười điều răn hiện có còn không, và nếu còn thì đang ở đâu ?
2/ mình phải trả lời thế nào với anh em tin lành về việc vẽ hoặc tạc tượng ảnh Chúa và các thánh để thờ. Vì họ nói trong kinh thánh cựu ước, Giavê cấm vẽ hình Ta mà thờ.
3/ khi mình lãnh ơn toàn xá (đại xá) được tha hết các hình phạt tạm rồi, thì khi chết mình có phải ở luyện ngục nữa không ?
Con rất mong câu trả lời. Nguyện xin Chúa chúc lành cho quý cha và quý thầy
Kính thư
con
Phero Nguyen Van Toan
( nguyen van toan <muonsongdep@...> Gửi: lienlac@kinhthanhvn.org)
Kính thăm anh,

Chúng tôi xin trả lời ba câu hỏi của anh:
1) Bia đá mười điều răn

Hòm Bia Giao Ước, còn gọi là “hai bia đá”, đã được đặt tại Gian Cực thánh của Đền Thờ Salômôn (x. 1 Vua 8,6). Nếu sau đó, Hòm Bia đã không bị Sisắc, vua Ai-cập (1 V 14,26) hoặc Mơnase, vua Giuđa (2 Sb 33,7) lấy đi, thì chắc chắn đã bị mất khi Giêrusalem bị tàn phá (năm 586/7 trước công nguyên). Nói như thế có nghĩa là chúng ta chỉ chắc chắn một điều là “hai bia đá” ấy không còn nữa, chứ không biết là đã bị mất trong hoàn cảnh nào.

Có một truyền thuyết nói rằng ngôn sứ Giêrêmia, trong khi thành Giêrusalem bị công hãm, đã lấy Hòm Bia đi, để Hòm Bia khỏi bị xúc phạm, và đem giấu ở một cái hang trên núi Sinai, và hẳn là Hòm Bia  vẫn còn ở đó cho đến khi Israel được tái thiết (x. 2 Mcb 2,4-8). Nhưng truyền thuyết này không có cơ sở thực tế gì.

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

HỎI ĐÁP KINH THÁNH tt

11 – Lý do nào Cha cho là quan trọng nhất để đọc Kinh Thánh?
Tôi phải phân biệt giữa câu trả lời về thần học và câu trả lời thực tế. Về thần học, câu trả lời hiển nhiên rằng, Kinh Thánh là lời Chúa trong một phương cách độc đáo mà không giống với bất cứ sáng tác nào của con người. Người Công Giáo thường bị lên án là ít quý trọng Kinh Thánh; tuy vậy Công Đồng Vatican II khẳng định rằng giáo hội thì không cao hơn lời Chúa nhưng phải phục vụ lời ấy, và chúng ta phải kính trọng lời Chúa trong Kinh Thánh tương tự như chúng ta kính trọng Ngôi Lời hoá thể trong bí tích Thánh Thể.

HỎI ĐÁP KINH THÁNH

1- Các sách trong Kinh Thánh của Công Giáo và Tin Lành khác nhau thế nào?
Về phần Tân Ước, Công Giáo và Tin Lành có cùng số sách (27 cuốn). Sự khác biệt là ở Cựu Ước. Người Do Thái và Tin Lành chỉ có 39 cuốn trong khi Cựu Ước của Công Giáo có 46 cuốn. Bảy cuốn khác biệt này là Tobit, Judith, 1-2 Macabee, Khôn Ngoan (của Salomon), Sirach (Huấn Ca – Giảng Viên), và Baruch. Tổng quát, các cuốn này được bảo tồn bằng tiếng Hy Lạp, không thấy trong tiếng cổ Do Thái (Hebrew) hay Aramaic.
Bộ Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp thường được gọi là bộ bẩy mươi (Septuagint), đó là bản dịch từ tiếng cổ Do Thái sang tiếng Hy Lạp bởi bẩy mươi giáo sĩ Do Thái vào trước khi Đức Kitô giáng sinh và được chấp nhận rộng rãi trong Hội Thánh thời tiên khởi.

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO

Con cháu Adong nhiều mầu da

Hỏi:
- Ông Ađam bà Evà mầu gì mà con cháu nhiều mầu da vậy?

Đáp:
- Không có sử liệu chứng minh rõ rệt. Vài nhà nhân chủng học (anthropologist) cho rằng các ngài có thể da mầu nâu (vì dầm sương dãi nắng, đổ mồ hôi kiếm miếng cơm như Thiên Chúa đã ra hình phạt!).
Con cháu nhiều mầu là do khí hậu và thể chất trong cơ thể.
Nóng như ở Phi, gần đường xích đạo làm cho da dễ đen.
Lạnh như ở bắc cực, thiếu ánh mặt trời làm cho da dễ trắng.
Nhiều mầu da tỏ ra nhiều vẻ đẹp của Chúa. Phải chăng da vàng đẹp nhất, vì không quá trắng, cũng không quá đen.
Mầu da được xác định bởi 2 chất hóa học: carotine cho da mầu vàng và melanin cho mầu da nâu. Người da đen có nhiều chất melanin, người da trắng có nhiều chất carotine hơn người khác. (Rev. Sheedy, Ask me a question, Our Sunday Visitor, 1989, p. 184).

Có đúng là Đạo nào cũng như đạo nào, theo đạo nào cũng được cứu rỗi không???

Hỏi:
Nghe người ta nói đạo nào cũng giống đạo nào, ở đâu cũng thờ Chúa cả. Ví dụ cụ thể: mục sư Tin Lành hay linh mục Công Giáo khi chữa lành đều có Chúa Thánh Thần. Việc này chứng minh Chúa không phân chia Thiên Chúa giáo. Theo đạo nào cũng tốt cả, cũng được phần rỗi về sau?
Nguyễn

 Đáp:
- Có một số người không rõ dựa vào đâu để nói" đạo nào cũng giống đạo nào", nghĩa là đạo nào cũng tốt, không có đạo này hơn đạo kia! Phải chăng họ chỉ căn cứ vào chỗ đạo nào cũng dạy "ăn ngay ở lành", nhưng có đúng là đạo nào cũng giống nhau không?
- Thật ra, nếu căn cứ vào mấy tiêu chuẩn như: tín lí (những điều phải tin), luân lí (những điều phải làm hay tránh), nghi lễ tôn thờ…sẽ thấy đạo này khác với đạo kia, có khi khác hẳn nhau, ví dụ đạo Công giáo tin con người sống có một đời, nhưng Phật giáo lại tin kiếp luân hồi, nghĩa là con người có nhiều kiếp. Tin lành và Công giáo tuy đều là tin Chúa Kitô , nhưng không giống nhau: Công giáo có 7 phép Bí tích, Tin lành thì không. Linh mục Công giáo không lấy vợ, mục sư Tin lành có vợ có con. Công giáo tôn kính mến yêu Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ loài người, Tin lành thì không....Nên tìm hiểu thêm về nguồn gốc Công giáo và Tin lành, gọi đúng là Thệ phản (Protestant)...
Theo đạo và đạt được phần rỗi là 2 chuyện khác nhau. Người khôn, cần theo đạo nào có "bảo đảm phần rỗi đời sau" và chiếm được những điều bảo đảm ấy.
Về phần tôi, nói giả thử: nếu tôi phải bỏ đạo Công giáo để đổi sang đạo khác, tôi sẽ chọn ngay lại đạo Công giáo, dù tôi biết Chúa Giêsu đã phán: "Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo". Lý do là vì đạo Công giáo có Ông Tổ Giêsu là Đường đi, là sự Thật và là sự Sống, 3 cái đó rất cần cho con người được vững tâm.
Đạo Công giáo có nhiều bảo đảm cho phần rỗi con người đời sau. Người Công giáo biết rõ sau khi chết mình đi đâu: - Lên Thiên đàng nếu không có tội trọng, tội nhẹ, đã đền xong tội mình. - Vào Luyện ngục nếu có tội nhẹ hoặc đền tội chưa xong, - Xuống Hỏa ngục nếu có tội trọng mà không ăn năn chừa cải.
Đạo Công giáo có Thiên Chúa yêu thương tôi như Cha yêu con, như Chúa nhân từ hằng tha tội cho tôi, muốn cứu rỗi tôi.
Đạo Công giáo có Hội thánh là mẹ săn sóc, chỉ dẫn cho tôi trên đường đời nhiều cạm bẫy...qua lời giáo huấn của đức giáo hoàng, các giám mục, linh mục ...
Đạo Công giáo có Mẹ Maria yêu thương tôi như người mẹ nhân lành và quyền phép.
Đạo Công giáo có 7 Bí tích sinh ra, nuôi dưỡng, cứu độ tôi.
Đạo tốt lành bảo đảm như thế mà không theo thì quá uổng. Thế mà, có người lại bỏ đạo Công giáo đi theo đạo khác cho dễ chịu hơn. Buồn 5 phút. Tôi nhớ lại lời Chúa đã phán xưa: Đường chật hẹp đưa tới sự sống thì ít người vào, đường rộng rãi đưa tới sự chết thì nhiều người nhào vô!!!