TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH

TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH


HỌ ĐẠO CÁI QUAO KÍNH CHÚC QUÝ CHA, QUÝ TU SĨ NAM NỮ VÀ ANH CHỊ EM GIÁO DÂN ...MỘT MÙA GIÁNG SINH TRÀN ĐẦY TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA!
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI VIẾT SƯU TẦM HAY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI VIẾT SƯU TẦM HAY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Ẩn ý của Chúa

Hồi nhỏ, tôi thích giải ô chữ, càng khó càng thú vị. Tôi còn nhớ tôi đã dự lễ Giáng Sinh để xem phép mầu mới có chờ tôi ở dưới cây No-en hay không.

Thế nên, không ngạc nhiên gì khi tôi có một tin nhắn thú vị và phấn khởi cho lễ Giáng Sinh!

Tôi rất thích bài thánh ca “Veni, Veni Emmanuel” (Lạy Đấng Emmanuel, xin hãy đến!) hát trong kinh chiều của tuần trước lễ Giáng Sinh (từ 12 tới 17 tháng 12). Mỗi đêm hát một bài, mỗi bài dùng một danh xưng khác nhau để chỉ Đức Kitô: Sapientia (Đấng Khôn Ngoan), Adonai (Chúa Dũng Lực), Radix Jesse (Chồi/Gốc Gie-sê), Clavis David (Chìa Khóa của Đa-vít), Oriens (Rạng Đông), Rex Gentium (Vua Các Quốc Gia), Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta).

Các Danh Xưng này gợi lên những điều suy tư, vì năm nào chúng ta cũng ngạc nhiên về “Thiên Chúa trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14). Khi nghĩ về điều này, cùng với việc mừng Chúa giáng sinh, những điều này lại có một sứ điệp khác dành cho mỗi chúng ta. Một sứ điệp rất đúng lúc vào đêm thứ tám (ngày 23-12): “Hãy vui mừng lên! Đấng Emmanuel sắp đến!”.

Nếu chúng ta nhìn lại 7 Danh Xưng của Đức Kitô, theo chiều ngược, chúng ta có trật tự này:

Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta (23-12)

Rex Gentium – Vua Các Quốc Gia (22-12)

Oriens – Rạng Đông (21-12)

Clavis David – Chìa Khóa của Đa-vít (20-12)

Radix Jesse – Chồi/Gốc Gie-sê (19-12)

Adonai – Chúa Dũng Lực (18-12)

Sapientia – Đấng Khôn Ngoan (17-12)

Chúng ta thấy các mẫu tự đầu tạo thành “ERO CRAS” – nghĩa là “Ngày mai Ta sẽ đến”.

Chúng ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin mau đến! Maranatha! Xin hãy đến, lạy Đấng Emmanuel!”. Và Thiên Chúa sẽ đáp lại: “Đây, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến, và Ta đem theo lương bổng để trả cho mỗi người tuỳ theo việc mình làm” (Kh 22:12).

Chúng ta hãy dọn tâm hồn mình để Chúa Hài Đồng ngự vào, Ngài là Đấng Cứu Độ cao cả và vĩnh hằng: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng” (Kh 1:8).

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)


CHÚT CHIA SẺ CUỐI MÙA VỌNG


 Không khí Giáng Sinh đã tràn ngập trên những con đường xứ đạo: những dàn đèn nhấp nháy giăng kín làm ta có cảm tưởng như đang đi dưới bầu trời sao rực rỡ. Những máng cỏ, hang đá, cây thông …cũng đã được dựng lên để chuẩn bị cho ngày lễ hội lớn trong năm đối với người Công giáo và cả người không theo đạo. Người ta chuẩn bị tất bật vì hôm nay đã là những ngày cuối cùng của mùa Vọng và chỉ vài ngày nữa lễ Giáng Sinh lại về trên khắp thế giới.

Chủ đề Phụng vụ Chúa nhật cuối mùa Vọng mời gọi chúng ta đón nhận Đức Giêsu vào trong cuộc đời của mình để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa theo kế hoạch yêu thương từ ngàn xưa qua Đức Giêsu Kitô: “Chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel.” (Is 7,14) và “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta."” (Mt 1, 23).

Thiên Chúa đã ở cùng chúng ta lâu lắm rồi nhưng ta đã chuẩn bị như thế nào để được ở cùng Thiên Chúa? Trong mùa Vọng ta đã được nghe những lời mời gọi sám hối, những buổi tĩnh tâm …mà hầu như giáo xứ nào, hội đoàn nào cũng tổ chức; nhưng sau khi ra về những lo toan, tất bật của cuộc sống hàng ngày đã làm ta quên những tâm tình của mùa Vọng! Xin cùng lắng đọng tâm hồn để mỗi người trong chúng ta không chỉ chuẩn bị đón Chúa Giáng Sinh bằng những dấu chỉ bên ngoài nhưng còn thật sự đón Chúa đến trong tâm hồn mỗi người qua Lời Chúa Chúa nhật thứ IV mùa Vọng.

Trước hết chúng ta cần mở lòng đón nhận ơn Chúa và cộng tác với Chúa Thánh Thần, tích cực đem Tin mừng cứu độ cho những người hôm nay chưa được nghe loan báo Tin mừng nước trời; chưa được nhận biết và khám phá nguồn hạnh phúc đích thực nơi Thiên Chúa như Thánh Phaolô khẳng định: “Tôi, Phaolô, tôi tớ của Đức Giêsu Kitô; tôi được gọi là Tông Đồ và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa”. (Rm 1,1-3). Đó là Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Người là Đấng mà Thiên Chúa đã hứa ban qua miệng các ngôn sứ. Người mang lấy và chia sẻ thân phận con người. Người là sự hiện hữu cụ thể của Thiên Chúa giữa con người; Người quả thật là “Emmanuel”.

Tiếp đến chúng ta hãy tìm kiếm và thực thi ý Chúa trong cuộc sống hằng ngày, can đảm và mau mắn cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa qua việc Ngài mời gọi chúng ta sống và thực thi sứ điệp của Ngài. Tận tâm chu toàn mọi bổn phận mà Chúa trao ban cho ta trong từng ngày và mau mắn đón nhận thánh ý Thiên Chúa như Thánh Giuse khi Thiên Chúa mặc khải kế hoạch cứu độ qua giấc mộng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." (Mt 1,20-21) để “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”. (Mt 1,25).

Lạy Chúa, chúng con đang bước vào những ngày cuối cùng của mùa Vọng 2013 với không khí se lạnh của những ngày cuối năm nhưng cũng rất ấm áp trong tình yêu thương qua kế hoạch cứu độ của Ngài. Xin cho chúng con nhận biết những ngày chúng con sống mãi mãi là mùa Vọng để chúng con luôn luôn chuẩn bị, trang hoàng tâm hồn chúng con bằng Lời Chúa. Để mỗi năm khi chúng con cất tiếng hát “Trời cao hãy đổ sương xuống …” chúng con lại được cảm nghiệm hơn nữa tình yêu thương của Chúa qua con trẻ Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng con.

Jos. Hoàng Mạnh Hùng

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

Danh Hiệu Của Ánh Sáng


Danh Hiệu Của Ánh Sáng

Không những ở Việt Nam, nhưng trên toàn thế giới, nhiều thánh nữ mang tên thánh bổn mạng Lucia, như nữ tu Lucia, một trong ba trẻ đã được thấy Ðức Mẹ hiện ra ở Fatima.

Những người thiếu nữ mang tên Lucia này không khỏi thất vọng khi tìm hiểu về đời sống và sự nghiệp của thánh nhân. Vì những sách cũ đã viết tiểu sử của các thánh nhân đã ghi lại nhiều câu chuyện về thánh Lucia, để rồi các tác giả viết về đời sống của các thánh nhân thời đại chúng ta lại phê bình những câu chuyện ấy không có tính cách lịch sử. Chúng ta chỉ có thể tóm lại những chứng tích lịch sử để viết về cuộc đời, nhất là cái chết vì niềm tin của thánh Lucia như sau:

Một chàng thanh niên không Công Giáo thất vọng vì không được Lucia đáp trả lại tình yêu của mình đã tố cáo với nhà cầm quyền Lucia là người Công Giáo. Và nàng đã bị xử tử vào năm 304 tại thành Syracuse vùng Sicilia, mạn Nam nước Italia. Di tích lịch sử thứ hai là tên Lucia được ghi trong danh sách những thánh tử đạo trong lời nguyện thánh lễ Roma, nay là lời nguyện Thánh Thể thứ nhất trong phụng vụ mới.

Những di tích bên lề cũng nên nói đến là nhiều địa danh, nhiều làng mạc, thành phố bên Âu Châu mang tên nàng, cũng như có những bằng chứng lịch sử về sự tôn kính nàng từ trước thế kỷ thứ 5.

Chữ "Lucia" có nghĩa là ánh sáng. Và gương can đảm chết vì lòng tin của nàng vẫn tiếp tục chiếu sáng trong tâm hồn những người đang bị thử thách và đau khổ vì lòng tin, cũng như làm rạng rỡ những khuôn mặt của những thiếu nữ mang tên thánh bổn mạng Lucia.

Muốn hiểu sự can đảm của thánh Lucia Giáo Hội mừng kính hôm nay với tước hiệu đồng trinh, tử đạo, chúng ta có thể tưởng tượng một thiếu nữ Công Giáo sống giữa những người không Công Giáo vào thời kỳ tôn giáo này bị bách hại. Ðể sống trọn niềm tin Công Giáo, nàng cũng gặp nhiều khó khăn như đại đa số những tín hữu Kitô trong thời đại chúng ta phải sống chung với những người vô thần, không tin tưởng.

Lạ lùng hơn là niềm tin của Lucia. Nàng tin vào một người sáng lập tôn giáo với thân thế và sự nghiệp không mấy được rõ ràng ở một nước thuộc địa xa xôi với thủ đô Jerusalem bị quân đội Roma phá hủy cách đó 200 năm. Trước khi truyền đạo, ông này làm nghề thợ mộc và sau một thời giảng đạo ngắn ngủi, ông bị quân lính Roma đóng đinh vào thập tự, một hình phạt dành cho dân thuộc địa phạm những trọng tội sát nhân hay nổi loạn. Nay Lucia tin tưởng với tất cả tâm hồn là ông ấy đã Phục Sinh, như một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đã chấp nhận những gì ông truuyền dạy và đã làm.

Ðể biểu lộ lòng tin của mình, Lucia đã thề hứa giữ sự trinh khiết, không lập gia đình.

Lucia lập lời hứa đó vì nàng biết đến gương anh dũng của những người chết vì đạo trong các hí trường tại Roma hay những nơi khác và nhất là để giữ lòng trung tín với ông Giêsu làng Nagiareth, đã bị chết treo trên thập giá, nhưng đối với niềm tin của nàng là Ðấng Cứu Thế, Con Một Thiên Chúa.

Trích từ Lẽ Sống

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

Tước hiệu "Phanxicô“ không chỉ là danh xưng ...


Tước hiệu "Phanxicô“ không chỉ là danh xưng, mà còn là kế hoạch sống

Lm. Nguyễn Hữu Thy 3/15/2013

Đúng 19 giờ 06 chiều ngày thứ tư, 13.3.2013, giờ Roma, từ ống khói nhà nguyện Sixtine cuồn cuộn khói trắng bốc lên nghi ngút, báo hiệu tin vui các Đức Hồng Y cử tri đã bầu chọn được Tân Giáo Hoàng và tiếp theo đó các quả chuông lớn nhỏ của đền thờ Thánh Phêrô đã thi nhau hớn hở cất tiếng vang dội như chứng thực cho làn khói trắng tỏa ra trên nóc nhà nguyện Sixtine là chính xác.


Nhưng mãi gần một giờ sau đó, đoàn rước và Đức Tân Giáo Hoàng mới xuất hiện trên ban-công đền thờ Thánh Phêrô để chào và chúc lành cho hàng mấy chục ngàn người đang sung sướng giơ tay reo hò "viva papa, viva papa, viva papa“: vạn tuế Đức Thánh Cha, vạn tuế Đức Thánh Cha, vạn tuế Đức Thánh Cha. 

Trước biển người đủ mọi màu sắc đang vẫy tay vui mừng chào đón ngài, Đức Tân Giáo Hoàng chỉ mỉm cười hiền hậu giơ tay vẫy chào lại dân chúng và khiêm tốn nói: "Buona Sera“: Chào anh chị em!

Vị Tân Giáo Hoàng đáng yêu đang được dân chúng tung hô kia không ai khác hơn là ĐHY Jorge Mario Bergoglio, 76 tuổi, một Tu Sĩ Dòng Tên, TGM thủ đô Buenos Aires của Á-căn-đình, Nam Mỹ, từng được mệnh danh là "Đức Hồng Y của những người nghèo.“ Và chính ngài cũng sống nghèo như các giáo dân nghèo của ngài. Là Tổng Giám Mục của giáo phận thủ đô, nhưng ngài không ở trong Tòa Giám Mục sang trọng, nhưng ở trong một căn nhà đơn sơ, tự đi chợ, tự nấu ăn và đi làm bằng xe buýt công cộng, chứ không có xe riêng và tài xế đưa đón.

Bởi vậy, ngài đã chọn tước hiệu Phanxicô I. Đây không hẳn là một tước hiệu hay một danh xưng thuần tuý, nhưng trước hết là một kế hoạch sống và một chương trình hành động của ngài trong tư cách là Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, là Giáo Chủ của Giáo Hội Công Giáo.

Từ trên dưới 1.000 năm nay, khi được bầu chọn làm Giáo Hoàng, các Đức Tân Giáo Hoàng thường chọn cho mình một tước hiệu, tức một danh xưng hay một tên gọi mới theo tên của một trong các vị Đại Thánh của Giáo Hội.

Theo lịch sử Giáo Hội thì đã có 23 vị Giáo Hoàng chọn tước hiệu "Gioan“; 16 vị chọn tước hiệu "Grê-gô-ri-ô“; 16 vị chọn tước hiệuBênêđíctô; 13 vị chọn tước hiệu „Lê-ô“; 12 vị chọn tước hiệu "Pi-ô“, v.v… Ngoại trừ tên "Phêrô“ được coi là "cấm kỵ“, chỉ dành cho thánh tông đồ Phêrô, vị Giáo Hoàng tiên khởi mà thôi, nên suốt trong lịch sử trên hai ngàn năm nay của Giáo Hội chưa hề có một vị Tân Giáo Hoàng nào chọn tước hiệu "Phêrô“. 

Cũng gần "cấm kỵ“ tương tự như thế, khi người ta chọn tước hiệu hay danh xưng theo tên một vị thánh nghèo, một vị Thánh Hành Khất, vì đơn giản là từ trước cho tới nay chưa hề có vị Giáo Hoàng nào đã chọn cho mình tước hiệu ấy. Nhưng nay Đức Tân Giáo Hoàng vốn xuất thân từ Á-căn-đình, từ một đất nước thuộc Nam Mỹ nghèo đói, ĐHY Gorge Mario Bergoglio, "Đức Hồng Y của những người nghèo“, đã dám làm điều đó. Từ nay cả thế giới sẽ gọi ngài là ĐGH Phanxicô Đệ Nhất!

Dĩ nhiên, Đức Thánh Cha Phanxicô đã không làm một điều quá ngoại lệ. Bình thường, khi một Tân Giáo Hoàng chọn cho mình một tước hiệu hay một danh xưng thì đồng thời cũng muốn nói cho thế giới biết tinh thần và hướng đi của ngài trong tư cách là vị thuyền trưởng của con thuyền Giáo Hội Công Giáo. Chúng ta có thể đưa ra vài ví dụ: Tước hiệu "Piô“ được chọn khi Đức Tân Giáo Hoàng muốn chống lại trào lưu tân thời chạy theo thời đại và muốn bảo vệ các truyền thống của Giáo Hội, như trường hợp Đức Piô X, Đức Piô XII. Còn tước hiệu "Phaolô“ được chọn khi Đức Tân Giáo Hoàng có khuynh hướng xã hội và canh tân. Trong trường hợp này người ta có thể nêu tên Đức Phaolô VI, một vị Giáo Hoàng đã có nhiều canh tân nhất trong lịch sử Giáo Hội.

Và ngày nay, Đức Giáo Hoàng Bergoglio với tước hiệu mới "Phanxicô“ sẽ có những bước đi vượt xa hơn nữa, để cùng với ngài Giáo Hội có thể đến gần hơn với đại chúng, tầng lớp nghèo, để chia sẻ với họ thân phận nghiệt ngã bần cùng của họ, như ngài từng làm khi còn là Tổng Giám Mục Buenos Aires ở Á-căn-đình. 

Khi chọn tước hiệu Phanxicô I, Đức Tân Giáo Hoàng đã rõ ràng muốn cho thế giới biết là chẳng những ngài „"uôn sẵn sàng canh tân“, nhưng còn muốn nói nhiều hơn nữa: "Tôi sẽ làm mới lại mọi sự theo tinh thần thánh Phanxicô Assisi!“ Nhưng không với tư cách là một người làm đầu chỉ biết chỉ tay năm ngón, mà là một người phục vụ khiêm tốn, như lời cha Federico Lombardi, phát ngôn viên Tòa Thánh, cũng là Tu Sĩ Dòng Tên (SJ), đã nói: "Trong Giáo Hội, các Tu Sĩ Dòng Tên luôn coi mình là những người phục vụ, chứ không phài là những người nắm giữ quyền hành.“

Thánh Phanxicô Assisi (1181-1226) là con của một gia đình buôn vải vóc giàu có, nhưng ngài đã không những từ bỏ sự giàu có vật chất của gia đình, nhưng ngài còn phê bình và chống lại cách thức thực hành giáo lý và sống đạo trong Giáo Hội lúc bấy giờ - của đại đa số các Giáo Sĩ cũng như của các giáo dân - bằng một cuộc cách mạng tinh thần toàn diện, đó là hoàn toàn dấn thân sống cuộc đời nghèo khó tuyệt căn và khất thực.

Qua cuộc sống nghèo khó tuyệt căn như thế, thánh Phanxicô đã đương nhiên trở thành vị trạng sư khả tín của tầng lớp nghèo và là vị tông đồ rao truyền một cuộc sống đơn sơ giản dị qua mọi thời đại, đồng thời ngài cũng đã trở thành người bạn của mọi loài chim chóc muông thú và của cả thiên nhiên. Quả thực thánh Phanxicô là một vị đại thánh của mọi thời đại, nhất là thời đại tân tiến và xa lìa thiên nhiên ngày nay.

Lời Kinh nổi danh nhất của thánh Phanxicô Assisi mà hầu như tất cả mọi tín hữu đều thuộc lòng luôn đáng cho chúng ta tâm niệm: 

"Lạy Chúa, xin làm cho con trở thành khí cụ bình an của Chúa: Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem tha thứ vào nơi lăng nhục, đem an bình vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.“

Chúng ta cùng cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Phanxicô, vị Cha Chung khả kính khả ái của Giáo Hội, để Chúa Thánh Thần cùng đồng hành và trợ giúp ngài thành công trong đường hướng đúng đắn và cần thiết mà ngài đã chọn, hầu mang lại lợi ích cho Giáo Hội. Amen


Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

Mật tuyển viện và những con số


Mật tuyển viện  những con số



WHĐ (09.03.2013) – Sau khi Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm vào ngày 28-02 vừa qua, Hồng y đoàn đã nhóm họp các phiên Hội nghị chung từ ngày 04-03 và đã quyết định khai mạc Mật tuyển viện vào ngày 12-03 để bầu Giáo hoàng. Nhân dịp này, trang mạng Vatican Radio điểm lại các Mật tuyển viện trong lịch sử (từ năm 1740), do Tiến sĩ Donald Prudlo, Phó Giáo sư môn Lịch sử tại Đại học Jacksonville State, Alabama, thực hiện:
Năm 1740: Đức giáo hoàng Bênêđictô XIV đắc cử (qua đời năm 1758)
– Có 51 cử tri. 4 hồng y qua đời trong khi họp Mật tuyển viện
– Là Mật tuyển viện dài nhất trong lịch sử: 181 ngày (từ 18 tháng Hai đến 17 tháng Tám)
Năm 1758: Đức giáo hoàng Clêmentê XIII đắc cử (qua đời năm 1769)
– Có 45 cử tri, 44 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 53 ngày (từ 15 tháng Năm đến 6 tháng Bảy)
Năm 1769: Đức giáo hoàng Clêmentê XIV đắc cử (qua đời năm 1774)
– Có 46 cử tri
– Thời gian: 94 ngày (từ 15 tháng Hai đến 19 tháng Năm)
Năm 1774-1775: Đức giáo hoàng Piô VI đắc cử (qua đời năm 1799)
– Có 44 cử tri. 2 hồng y qua đời trong khi họp Mật tuyển viện
– Thời gian: 133 ngày (từ 5 tháng Mười 1774 đến 15 tháng Hai 1775)
Năm 1799-1800: Đức giáo hoàng Piô VII đắc cử (qua đời năm 1823)
– Mật tuyển viện diễn ra tại Venitia, vì Roma bị chiếm đóng; đây là cuộc bầu giáo hoàng cuối cùng  ngoài Roma
– Có 34 cử tri
– Thời gian: 105 ngày (từ 1 tháng Mười Hai 1799 đến 14 tháng Ba 1800)
Năm 1823: Đức giáo hoàng Lêô XII đắc cử (qua đời năm 1829)
– Có 49 cử tri
– Thời gian: 27 ngày (từ 02 đến 28 tháng Chín)
Năm 1829: Đức giáo hoàng Piô VIII đắc cử (qua đời năm 1830)
– Có 50 cử tri
– Thời gian: 36 ngày (từ 24 tháng Hai đến 31 tháng Ba)
Năm 1830-1831: Đức giáo hoàng Grêgôr XVI đắc cử (qua đời năm 1846)
– Là Mật tuyển viện cuối cùng mà vị Tân giáo hoàng không phải là giám mục
– Có 45 cử tri
– Thời gian: 51 ngày (từ 14 tháng Mười Hai 1830 đến 02 tháng Hai 1831)
Năm 1846: Đức giáo hoàng Piô IX đắc cử (qua đời năm 1878)
– Là Mật tuyển viện đầu tiên có thời gian ngắn nhất
– Có 50 cử tri
– Thời gian: 3 ngày (từ 14 đến 16 tháng Sáu)
Năm 1878: Đức giáo hoàng Lêô XIII đắc cử (qua đời năm 1903)
– Có 61 cử tri
– Thời gian: 3 ngày (từ 18 đến 20 tháng Hai)
Năm 1903: Đức giáo hoàng Piô X đắc cử (qua đời năm 1914)
– Là Mật tuyển viện cuối cùng áp dụng quyền ius exclusivae (phủ quyết). Và Tân giáo hoàng Piô X đã chính thức bãi bỏ quyền này
– Có 64 cử tri, 7 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 4 ngày (từ 31 tháng Bảy đến 04 tháng Tám)
Năm 1914: Đức giáo hoàng Bênêđictô XV đắc cử (qua đời năm 1922)
 2 vị cử tri người Mỹ và 1 Canada không được tham dự vì đến trễ
– Hồng y người châu Mỹ Latinh đầu tiên tham dự
– Có 57 cử tri, 10 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 4 ngày (từ 31 tháng Tám đến 3 tháng Chín)
Năm 1922: Đức giáo hoàng Piô XI đắc cử (qua đời năm 1939)
– Một lần nữa, 2 vị cử tri người Mỹ và 1 Canada không được tham dự vì đến trễ. Sau Mật tuyển viện này, luật quy định các Hồng y có 15 ngày để đến Roma
– Có 53 cử tri, 14 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 5 ngày (từ 02 đến 06 tháng Hai)
Năm 1939: Đức giáo hoàng Piô XII đắc cử (qua đời năm 1958)
– Mật tuyển viện đầu tiên có Thượng phụ nghi lễ Đông phương tham dự
– Có 62 cử tri, 3 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 2 ngày (từ 01 đến 02 tháng Ba), là Mật tuyển viện ngắn nhất.
Năm 1958: Đức giáo hoàng Gioan XXIII đắc cử (qua đời năm 1963)
– Mật tuyển viện đầu tiên có các hồng y Trung Quốc, Ấn Độ và châu Phi tham dự
– Có 51 cử tri, 11 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 4 ngày (từ 25 đến 28 tháng Mười)
Năm 1963: Đức giáo hoàng Phaolô VI đắc cử (qua đời năm 1978)
– Có 80 cử tri, 6 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 3 ngày (từ 19 đến 21 tháng Sáu)
Năm 1978: (1) Đức giáo hoàng Gioan Phaolô I đắc cử (qua đời năm 1978)
 Mật tuyển viện đầu tiên các hồng y trên 80 tuổi không được tham dự
– Có 111 cử tri, 4 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 2 ngày (từ 25 đến 26 tháng Tám)
Năm 1978: (2) Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đắc cử (qua đời năm 2005)
– Có 111 cử tri, 8 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 3 ngày (từ 14 đến 16 tháng Mười)
Năm 2005: Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đắc cử.
– Có 115 cử tri (đông nhất, bằng số cử tri của Mật tuyển viện 2013)
 4 vòng bỏ phiếu
– Thời gian: 2 ngày (từ 18 đến 19 tháng Tư)
Năm 2013:
 Mật tuyển viện đầu tiên diễn ra trong Mùa Chay, kể từ năm 1829.
– Có 115 cử tri.
(Vatican Radio, 08-03-2013)

Minh Đức

Tâm tình những ngày chờ đơi Tân Giáo Hoàng


Tâm tình những ngày chờ đơi Tân Giáo Hoàng
Gioan Lê Quang Vinh 3/10/2013

Cuộc đời của Dân Chúa trên trần thế này là cuộc lữ hành đầy hy vọng. Người Công giáo có kinh nghiệm đợi chờ, mà cuộc đợi chờ lớn nhất chính là chờ ngày Chúa quang lâm. Trong cõi đợi chờ ấy, hàng năm Hội Thánh mời gọi chúng ta chờ đợi hồng ân trong Mùa Vọng và Mùa Chay Thánh.

Trong Mùa Chay năm nay, dân Chúa lại sống tâm tình đợi chờ người Cha chung sẽ xuất hiện để thay mặt Chúa Kitô cai trị Hội Thánh của Người.

Có lẽ đây là lần đầu tiên Dân Chúa đợi chờ một cách nóng lòng, háo hức và gắn bó với cuộc bầu cử Đức Giáo Hoàng đến như thế. Người ta sốt sắng cầu nguyện, biểu lộ tâm tình và trao đổi với nhau y như đang đứng trong quảng trường Thánh Phêrô tại Vatican.

Trong dòng lịch sử Hội Thánh Chúa, chắc ít khi nào có hiện tượng đợi chờ sốt mến bằng lần này, ít là xét về mặt số lượng người liên kết cùng đợi chờ.

Dĩ nhiên người ta có thể lý giải hiện tượng ấy ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng có một khía cạnh không thể phủ nhận: đó là gương mặt diễm lệ và thánh thiện của Đức Kitô đang chiếu vào trong thế gian này và vào tâm hồn từng người tín hữu một luồng ánh sáng rực rỡ huy hoàng.

Dường như có một phép lạ đang diễn ra. Khi thế gian lên tiếng thắc mắc về một số vấn đề trong Hội Thánh Chúa, khi người ta tưởng Dân Chúa đang dần xa rời Hội Thánh, và khi những vấn đề liên quan đến luân lý và xã hội nảy sinh như những câu hỏi khó tìm được câu trả lời, thì Đức Kitô chỗi dậy và lên tiếng: “Thầy đây, đừng sợ”.

Đây cũng là dịp cho thế gian chiêm ngắm Mầu nhiệm của Hội Thánh. Người ta thắc mắc và ngưỡng mộ việc bầu cử tại giáo triều, một cuộc bầu cử tuyệt đối tự do, khách quan và công bằng. Dĩ nhiên đó là cuộc bầu cử dưới sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa. 

Trong một số quốc gia, như trong xã hội chúng ta chẳng hạn, người ta vốn không mấy tin tưởng vào tính khách quan của các cuộc bầu cử. Có những cuộc bầu cử hay tiến cử mà các đài phát thanh và các website ngoại quốc đã đưa ra kết quả trước cả nửa tháng, và kết quả thường đúng ở mức… 100%. Vậy mà trong những xã hội ấy, người ta vẫn tin tưởng vào cuộc bầu cử tại Toà Thánh, tin tưởng cũng ở mức 100%. 

Chỉ suy nghĩ về điều ấy thôi, chúng ta cũng cảm nhận được hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh Chúa.

Cuộc bầu cử ở Cơ Mật Viện được diễn ra trong bầu khí thánh thiện, các vị Hồng Y khiêm tốn đón nhận Thánh Ý Thiên Chúa được thể hiện qua sự chọn lựa của các ngài. Cuộc bầu cử này không có tranh cử, không có tranh luận để giành phiếu và cũng không được áp đặt bởi bất cứ con người hay quyền lực trần gian nào. Con người thời đại dù có ganh ghét Hội Thánh đến đâu đi nữa thì cũng phải thầm ngưỡng mộ cơ chế Hội Thánh hữu hình ở điểm này.

Những điều đang xảy ra trong Hội Thánh gây ra một làn sóng “tranh luận” rất dễ thương trên các trang mạng xã hội. Nói “tranh luận” là nói vui để diễn tả việc Dân Chúa chờ đợi cuộc bầu cử đang đến bằng những tâm tình và những cảm nhận rất thật. 

Có người cho rằng chỉ nên chờ đợi, không nên phỏng đoán. Nhiều người khác lại đưa ý kiến rằng mở lại lịch sử Hội Thánh và nhìn ra thế giới để đoán trước dung mạo người Cha chung cũng là một cách nói lên lòng yêu mến Hội Thánh. Cả hai luồng ý kiến ấy, rất đáng mừng là đều kết luận bằng việc nhắc nhở nhau “cùng cầu nguyện cho Hội Thánh Chúa”.

Một yếu tố khác làm cho cuộc bầu cử ở Cơ Mật Viện Vatican hoàn toàn khác với nhiều cuộc bầu cử khác. Ấy là không có những tính toán vụ lợi, không có những lời hứa hão huyền, không mị dân. Tất cả các Hồng Y cử tri và vị được bầu làm Giáo Hoàng đều có một niềm mong mỏi: vì Chúa, phục vụ Hội Thánh Chúa một cách đắc lực nhất.

Và vị được bầu lên, như trong bài viết mới đây của tác giả Vũ Văn An, “các hồng y thường đề cập tới các thuộc tính mà Giáo Hội hiện nay rất cần: một nhà truyền thông đầy thuyết phục, có sức lôi cuốn cả bằng lời lẫn bằng tư cách thánh thiện của mình, đồng thời là “một cảnh sát trưởng” (sheriff) không biết sợ sẵn sàng giải quyết các bất ổn và tai tiếng” (Vietcatholic.net)

Trong một thời gian ngắn nữa chúng ta sẽ có Đức Tân Giáo Hoàng. Trong niềm vui và hy vọng, chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Benedicto XVI, cho Hồng Y đoàn và cho vị Giáo Hoàng sắp bước vào lịch sử Hội Thánh.

“Này con là Đá, trên Đá này Thầy xây dựng Hội Thánh của Thầy”. Vâng lạy Chúa, chúng con tin Lời Chúa nói về đấng đại diện Chúa trên trần gian.